Hiển thị các bài đăng có nhãn niềm tin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn niềm tin. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 1, 2014

Niềm tin

>> Chữ “dũng” của người viết sử
>> Vì niềm tin vào hệ thống ngân hàng
>> Trời cao có mắt, tôi tin thế và mãi mãi tin thế
>> Huyền Như nhận án tù chung thân
>> Dưới luật


Nguyễn Minh Thành

Pro&contra - Đọc bài: “Hy vọng những đốm lửa nhỏ, cần mẫn” của tiến sĩ Giáp Văn Dương, tôi thấy hứng thú viết bài này, với ý muốn nương theo và bàn sâu hơn vào đề tài niềm tin mà tiến sĩ nói đến. Hi vọng cùng nhau góp phần giúp khơi dậy một chút niềm tin trong chúng ta hôm nay.

Thực tế đúng là xã hội Việt Nam đang mất niềm tin trầm trọng.

Vậy: Niềm tin là gì?

Thực ra hầu như ai cũng biết niềm tin là gì, nhưng động tác đặt ra câu hỏi làm cho ta có thêm không gian cho một vấn đề, mà cuộc sống vốn vội vã của chúng ta đều thiếu chỗ cho hầu hết mọi điều.

“Niềm tin” là từ mà loài người chúng ta dùng cho nhau, nhưng nếu quan sát các vật vô tri trong qui luật vật lí, các vật có thể ở bên nhau khá lâu, hay có khả năng gắn kết với nhau đều phải đạt một số điều kiện tương đồng nào đó, thì đó cũng là niềm tin của chúng. Ví dụ các viên gạch đều có những mặt phẳng là điều kiện để dễ bề xây nên bức tường, hay hai cái móc đều cong quặp tương ứng, để móc vào nhau cho việc lôi kéo hay níu giữ. Một cái cây đứng vững chãi trên mặt đất, là vì bộ rễ mềm mại của nó vươn sâu vào lòng đất, cùng lòng đất có thể mềm đủ, để cho phép nó chui sâu, và rễ cây ôm lòng đất hay lòng đất ôm rễ cây cũng là một dạng tin cậy vậy.

Niềm tin không xảy ra khi có một sự đe doạ bị xâm hại nào đó từ phía đối tác.

Niềm tin biểu hiện ra bề ngoài là sự cam kết, nhưng hun đúc ở bên trong không nhìn thấy là sự thật. Vì thế, đơn giản là: ở đâu có sự thật, ở đó có niềm tin và ngược lại. Hay cũng có thể nói: sự thành thật là năng lượng cho niềm tin.

Lão Tử nói trong Đạo đức kinh về lòng tin cậy như sau:

“Kẻ nào biết quí thân vì thiên hạ, Nên giao phó thiên hạ cho họ.

Kẻ nào biết thương thân vì thiên hạ, Nên gửi gắm thiên hạ cho họ.”

(Quí dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả kí thiên hạ. Ái dĩ thân vi thiên hạ, nhược khả thác thiên hạ.)

Đây là trích từ bản dịch của Thu Giang Nguyễn Duy Cần mà tôi tìm được trên internet. Thật tiếc là tôi không tìm thấy bản dịch tiếng Việt nào nói lên được vẻ đẹp cao siêu và kì diệu của câu này cũng như hầu hết pho kinh, thế nên ít người hiểu và cảm thụ được. Bây giờ pho Đạo đức kinh cũng kể như pho kinh chết.

Chữ “vi” ở đây nghĩa rất rộng, không chỉ nghĩa là vì, mà còn là: ở trong. Nghĩa là: Ai biết quí, cùng tôn trọng thân mình và biết mình trong vòng tay trời đất và vì trời đất (chữ “Thiên hạ” cũng thường bị hiểu hạn hẹp là quốc gia, đất nước, mà thực ra phải là: trời đất) thì trời đất mới có thể chui vào trong nó. Ai biết yêu thương thân mình trong trời đất, vì trời đất, thì người đó mới có thể thả mình tan biến, hay hoà tan trong trời đất, vũ trụ.

Sự quí trọng và yêu thương mới là yếu tố cần thiết để con người đạt đến thông minh, hiểu biết, và cũng là sự thành thật. Nhưng Lão Tử nói quí và yêu bản thân mình, điều này nghe có vẻ ích kỉ tiêu cực, song không phải thế.

Vì: quí yêu bản thân trong Trời Đất. Chính đây là điểm khó hiểu của lời kinh. Nếu một người ý thức được mình ở trong trời đất (mặc dù ai cũng đều ở trong trời đất mà nhiều người không hề biết!), liền xảy ra một niềm tin cậy lớn, tin cậy nơi sự sống. Nó thấy mình bắt rễ sâu trong nguồn mạch sự sống và có bản lãnh cùng vinh dự vươn cao đến tận cùng của sự tồn tại. Lúc ấy nó trở nên siêu việt trong tình yêu, không chỉ đơn thuần tình yêu vợ chồng, bạn bè, người thân, bố mẹ, con cái… Lúc này người ấy mới biết tình yêu thực sự, chỉ có tình yêu thực sự này mới là phép màu, làm người ấy đủ can đảm tan biến vào vũ trụ cũng như là chủ cả vũ trụ. Đó là mục đích tận cùng của loài người.

Ai biết quí yêu bản thân mình, người đó mới biết quí yêu tha nhân hay ngoại cảnh. Còn người chưa biết yêu quí được chính mình mà nói yêu người khác, chắc chắn không thể được, và đó cũng chính là bộ mặt đạo đức giả hay chủ nghĩa giáo điều, mà ngày nay chúng ta thấy nhan nhản trên mặt đất, cho dù họ mang danh tôn giáo hay dân chủ hay nhân dân hay cộng sản…

Lão Tử dùng hai vế đối, trên là kí, dưới là thác để nói lên sự đón nhận và phó thác. Đón nhận và phó thác chính là nguyên lí của niềm tin. Và niềm tin trong câu kinh trên của Lão Tử là niềm tin lớn nhất trong toàn bộ mọi niềm tin. Đó là: con người có thể ôm lấy cả vũ trụ và con người cũng hoàn toàn ở trong tay vũ trụ mà không còn có thể đi đâu khác được nữa. Hay đơn giản hơn là: Vũ trụ giao mình cho nó và nó giao mình cho vũ trụ. Đó là một bảo đảm mà không có sự bảo đảm nào lớn hơn được.

Và đến đây ta thấy điều kiện cho lòng tin là sự bảo đảm. Ít nhiều thì ở các nước tiến bộ, người ta đã hiểu và thực hiện điều này, chứ không chộp giật và phản trắc như trong xã hội Việt Nam hôm nay. Ít nhiều ở các nước ấy người ta đã nghĩ ra mô hình các quỹ tín thác (trust) hay các hãng bảo hiểm hay nhà băng… Cho dù các mô hình đó chỉ là mô phỏng na ná thô sơ theo qui luật về sự tin cậy thường hằng trong vũ trụ. Nhưng dầu vậy cũng thật đáng khen.

Tới đây chúng ta tạm có công thức: muốn có lòng tin cần có bảo đảm, mà muốn có bảo đảm cần có thành thật.

Thành thật là khởi sự và nền móng cho công trình sự sống mà con người thật vinh dự biết bao tham dự.

Để có lòng thành thật là chỗ khó nhất trên quá trình tiến hoá của nhân loại. Và Việt Nam hiện nay đang ở chính giữa của điểm kẹt này. Nơi nào không thông, ùn tắc nhiều quá thì sự cộng hưởng đau khổ sẽ tạo nên thù nghịch và chiến tranh. Muốn cho thông thì phương thuốc là: mỗi người phải hướng vào trong chính mình.

Đã luôn không thiếu những tâm hồn nhiệt huyết muốn thay đổi thế giới bằng các phong trào rầm rộ có sức lôi cuốn đông đảo, Song trên thế giới đến ngày nay dường như sự xấu càng gia tăng và bất hạnh của loài người là không kể xiết. Bởi vì đó là những phong trào chỉ lo bên ngoài. Chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi thế giới bề ngoài theo cách nào đó, nhưng giải pháp cho sự đau khổ của con người chỉ có thể bắt đầu từ bên trong.

Và tôi đồng ý với tiến sĩ Giáp Văn Dương khi ông nói: “Nếu không thay đổi được đời, thì thay đổi ta trước vậy. Khi những ngọn đuốc lớn đã không thể cháy thì chỉ còn hy vọng vào những đốm lửa nhỏ, kiên nhẫn và cần mẫn”.

Vâng, theo tôi, không thể thay đổi người khác nếu mình không hơn người ta. Nhưng tôi không thích dùng từ thay đổi vì rất dễ bị hiểu lầm và lạm dụng, mà tôi thích dùng từ ảnh hưởng.

Và chỉ khi hướng nội, thì người ta mới thực sự tiến hoá. Tiến hoá là: càng ngày mình càng lớn hơn, trưởng thành hơn về tâm thức. Khi ấy sự ảnh hưởng với người khác là tự nhiên chứ không cần nỗ lực.

Cách thực tập để quay về bên trong thì rất đơn giản mà lại rất khó. Đơn giản là vì chỉ cần bắt đầu từ thật thà. Khó là vì nếu tôi bắt đầu thật thà mà người khác thì không, khiến tôi bị thiệt. Ta hãy bỏ qua phần đơn giản mà xem xét phần khó. Tuy khó đấy nhưng không phải là không có cách. Đó là hãy chậm rãi và thực tập thật thà từng cái nhỏ. Nếu có bị thiệt thì cũng thiệt nhỏ thôi. Đương nhiên là cần chút kiên nhẫn vì ta hay muốn mau chóng. Sự đau khổ vì mất niềm tin mà dối trá gây nên cho chúng ta đến như ngày nay cũng là vì dối trá rất kiên nhẫn. Chúng từng tí, từng tí len lỏi vào tâm hồn vốn trong trắng của nhân loại cả muôn ngàn năm rồi. Vậy để cho công bằng thì ta cũng phải kiên nhẫn ít ra như thế, thậm chí tốt hơn nếu có thể kiên nhẫn hơn. Rồi khi bén lửa, chúng bừng cháy và ta sẽ hân hoan.

Để cho cảm thấy đỡ khó, tôi nói đến cái lợi của sự thật thà mà chính tôi trải qua. Trước đây tôi đã từng dối trá và rất dối trá. Lòng tôi vì thế cũng rối tung lên và tôi đau khổ. Cái dối trá lần trước nhỏ thì cái lần sau phải to hơn và suy nghĩ phải chạy nhanh hơn và đương nhiên là mệt mỏi hơn. Khi mệt mỏi thì làm sao làm việc hiệu quả tốt được, nên mọi chuyện trở nên xấu xí. Cho tới khi tôi không thể chịu nổi và phải thoát ra. Tôi đã đầu hàng và quay lại tập thật thà. Quả thật, nay một chút, mai một tí, mỗi lần thật thà là mỗi lần nhẹ hơn, sung sướng hơn. Mỗi lần thành thật nho nhỏ, là mỗi lần một niềm tin nhỏ nhỏ thắp lên.

Tôi hiểu kinh nghiệm kiểu như thế này ít nhiều ai cũng trải qua.

Và tôi cũng hiểu còn rất nhiều người biết thế nhưng nghĩ: mình, thấy sống như hiện tại vẫn còn được nên cứ từ từ rồi hãy thay đổi.

Tôi cũng từng chứng kiến những người đã qua đời mà chưa kịp thay đổi.

Còn hiện nay tôi cũng chứng kiến nhiều bạn bè tôi, nhiều người thân trong gia đình tôi sống trong dối trá, mà tôi chưa đủ mạnh để ảnh hưởng họ chuyển sang thành thật.

Kì lạ lắm, khi ta đang trong tình trạng dối trá, giống như con gà con sắp nở trong vỏ trứng. Khi ấy ai bảo ta rằng ngay bên ngoài vỏ, cách 0,1 mm thôi là cả một sự lớn rộng bao la, ta không tin, làm sao tin nổi trong vỏ trứng kín mít thế này! Ấy thế mà khi gà mẹ mổ cho một cái vỡ vỏ trứng, thế là một thế giới hoàn toàn trái ngược với không gian trong vỏ trứng ùa vào. Gà con dù bé nhỏ, nhưng nó cũng đủ mạnh để đạp thoát ra ngoài vỏ trứng.

Sự thật ở bên ngoài vỏ trứng, vậy làm sao chúng ta có thể bị thiệt thòi khi từ bỏ dối trá. Sự từ bỏ dối trá đáng giá cho ta cả đất trời. Hãy đón nhận sự bảo đảm ấy.

Muốn có sự thành thật với người khác, thì ta phải thành thật với chính mình trước. Điều này hầu như ai cũng nghe nhiều và “biết rồi khổ lắm nói mãi”, song quả thực để bắt tay thực hiện thì không dễ.

Ta thường trải qua một giai đoạn ngần ngại và hoài nghi. Có một sự đổ vỡ lớn mà ta lơ mơ cảm thấy khiến ta ngần ngại. Có một cảm giác mất mát mơ hồ khiến ta băn khoăn: liệu khi chuyển sang thành thật, tôi sẽ được bù lại gì trước những mất mát? Thực ra chúng ta chưa hề cho mình cơ hội xem xét những thứ đổ vỡ mất mát đó là những gì. Thực sự chúng chỉ là rác và đồ giả lộn xộn chồng đống trong tâm hồn chúng ta. Cũng từ đống rác đó mà buồn bực sinh ra, phiền não sinh ra, thù hận sinh ra…

Chỉ cần chúng ta hãy đặt câu hỏi: Có ai hạnh phúc vì dối trá không? Và chúng ta xem xét câu trả lời một cách nghiêm túc trên mọi khía cạnh. Câu trả lời đúng nhất là rất ngắn gọn một từ: “Không”. Chừng nào mà ta còn chưa cảm nhận và thấu hiểu điều đơn giản: dối là ảo, là bất hạnh; thật là thật, là hạnh phúc, thì dù có làm gì ta cũng chỉ là đang giãy giụa chứ chưa ngả mình trong vòng tay sự sống.

Thành thật ư? Đầu tiên là tôi cảm thấy không thích khi coi mình là người giả dối. Tôi thậm chí sẽ rất ghét nếu ai đó coi tôi là giả dối. Và như thế một hàng rào do cái tôi giả dối sẽ dựng nên, hàng rào đó được xây đắp bởi kĩ thuật của chính sự dối trá càng lúc càng tinh vi. Khiến cho không biết bao nhiêu người không biết chính mình là người giả dối. Không những chỉ cá nhân, mà còn cả những tập thể cũng không hề biết họ đang bảo vệ và vun bồi cho sự giả dối tinh vi đang choán ngợp, ngự trị trong cộng đồng và xã hội.

Sự giả dối tinh vi thường nguỵ trang khéo léo trong các nhãn hiệu của tôn giáo hay đạo đức hay tình yêu.

Lấy ví dụ: Tình yêu nước chính là một thứ tình yêu giả, thế mà nó gây ra biết bao đau khổ cho nhân loại từ xưa đến giờ. Trong tự nhiên không hề có cái gọi là lòng yêu nước. Đó hoàn toàn là sản phẩm nhân tạo. Chúng chỉ tồn tại trong sự mê muội của tâm trí loài người chứ không liên quan gì đến tình yêu của sự sống tự nhiên. Và đến ngày nay trái đất chịu bao vết hằn ngang dọc vì biên giới quốc gia. Con người bị thít chặt trong mớ dây hận thù, tham lam, sợ hãi và chia rẽ.

Hay một ví dụ khác: Cô gái chửa hoang hoàn toàn đẹp và đạo đức trước thiên nhiên và trời đất. Nhưng cô ấy sẽ bị biết bao đau khổ trước mặt người đời!

Thêm một ví dụ khác nữa: Chỉ có một Thượng đế duy nhất (nếu có), thế mà bao nhiêu tôn giáo mặc dù công nhận như thế, song lại tranh giành nhau độc chiếm, thậm chí đổ không biết bao nhiêu là máu xương!

Tôi chỉ nêu ra ba ví dụ trong biết bao trường hợp không đếm xuể mệnh danh là đạo đức mà con người phải gánh vác được trao cho bởi chính con người. Kẻ tạo ra chúng là sự dối trá và cách mà chúng được tạo thành cùng được nuôi dưỡng là do chiều hướng sống ra bên ngoài. Ta hãy cẩn trọng phân biệt thế nào là đạo đức tự nhiên và thế nào là đạo đức nhân tạo.

Quay vào bên trong hay ngoảnh đầu là bờ là lời năn nỉ của sự thật và cũng chỉ có cách đó là duy nhất cứu rỗi.

Người ta nói mất niềm tin là mất tất cả, tôi thì cho là chưa mất tất cả. Chúng ta luôn luôn còn sự khởi đầu mới ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào.

Và đó cũng là một đảm bảo nữa của sự sống, đó là: chúng ta luôn có thể bắt đầu từ ngay bây giờ và ở đây. Đó chính là nhiệm màu.

Đà Lạt tháng Một năm 2014


Xem thêm:
- Đẹp mặt chưa!
- Cần lao chơi đồ cổ!
- Cổng chùa thiện ác

Lừa đảo hay tham ô

>> "Phát lộ" sếp nhận lương hơn 2,6 tỷ đồng/năm
>> Thái Lan: căng thẳng chính trị vẫn bế tắc
>> Người chống tham nhũng sẽ bị tuyên án ngày chủ nhật
>> Tin rúng động: dừng tuyển sinh 207 ngành đào tạo đại học (có cái ngành chuyên dạy nói dối sao không thấy dừng luôn!)


Lý Toét

Trong kinh doanh người ta quan tâm đến Doanh thu và Chi phí. Hiệu số của Doanh thu và Chi phí là Lãi gộp hay Lãi trước thuế, con số dùng để đánh thuế Lợi tức. Không phải tất cả các khoản Chi (có chứng từ hợp lệ, tất nhiên) đều được tính thành Chi phí, có những khoản chi không hợp lý buộc phải đưa vào Lãi gộp. Sổ sách kế toán là bắt buộc nhằm giúp chủ doanh nghiệp và cơ quan thuế rạch ròi được 2 khoản này một cách chính xác.

Sổ sách kế toán cũng nhằm giải trình cho đại hội cổ đông về tài chính doanh nghiệp. Cổ đông không muốn có những khoản chi ngoài nghiệp vụ kinh doanh nên cũng có yêu cầu về mặt sổ sách giống như cơ quan thuế.

Một số ngành có lãi rất cao, như là ngành ngân hàng. Doanh thu của ngành này tối thiểu là 3% cho khoản vay 1 năm. Tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống lên đến 3 triêu tỷ đồng đem lại doanh thu ít nhất là 90 ngàn tỷ đồng (thực tế có thể gấp 1.5 đến 2 lần con số này). Do đó, lãi trước thuế theo báo cáo của mỗi ngân hàng khoảng từ 2 ngàn đến 5 ngàn tỷ đồng.

Lãi lớn nên các cổ đông lớn có cơ hội lạm dụng những khoản chi của ngân hàng cho mục đích riêng của họ. Có thể đó là những khoản đầu tư rủi ro cao. Nếu thành công thì họ thu lãi vào túi riêng và trả vốn lại cho ngân hàng. Nếu thất bại, khoản đầu tư bị mất thì việc hạch toán sẽ không dễ dàng.

Như đã nói ở trên, bất kỳ một khoản chi nào cũng đòi hỏi phải có chứng từ hợp lệ.

Nguỵ tạo việc Triển khai một dự án nửa chừng rồi đóng cửa là một cách. Cách này đòi hỏi phải lập một dự án khả thi, tốn chi phí nghiên cứu, tốn thời gian, là một cách làm kém hiệu quả.

Mua một sản phẩm có giá trị thấp với giá cao gấp nhiều lần giá trị thực. Cách này khá hiệu quả trong thời đại mù mờ thông tin. Ngày nay, nó trở nên nguy hiểm, có nguy cơ phạm tội tham ô. (*)

Cớ bị mất trộm cũng là một cách. Nhưng bị mất trộm một lúc cả ngàn tỷ đồng thì ngay cả bộ trưởng Công an cũng không dám chứng thực.

Một cách ít ai ngờ tới là "bị lừa đảo", nghĩa là dùng tiền mặt để mua một loại "giấy tờ có giá" và mua nhằm đồ giả. (**)

Vấn đề là ở chỗ, các cổ đông cần phải biết chắc chắn rằng món đồ giả kia (***) phải đang nằm trong két sắt của ngân hàng mà họ đang là đồng chủ sở hữu. Nếu không, những người thực hiện giao dịch (giả định) liên quan đến những "giấy tờ có giá" kia là nghi phạm tham ô hàng đầu.

Chú thích:
(*) Xem vụ án Dương Chí Dũng trên báo đảng.
(**) Hình minh hoạ ở đầu bài là một loại "giấy tờ có giá".
(***) Xem vụ án Huyền Như trên báo đảng.

Xem thêm:
- Độc quyền lãi “khủng”
- Vì niềm tin vào hệ thống ngân hàng
- Tuyên bố này là có thể hiểu được nhưng hơi vội vã

Thứ Sáu, 24 tháng 1, 2014

Vì niềm tin vào hệ thống ngân hàng

>> 60 hình ảnh ấn tượng về Việt Nam năm 1992
>> Cựu GĐ chi nhánh ngân hàng bị bắt sau 1 năm lẩn trốn
>> Từ vụ án Năm Cam đến vụ án “làm lộ bí mật Nhà nước”…
>> Trọn bộ 5 biệt thự, căn hộ cao cấp của nhà Dương Chí Dũng
>> Bầu Kiên lại tiếp tục lôi lãnh đạo ACB dính chàm


Vân Cầm

(TBKTSG) - Trong vụ án Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo số tiền khổng lồ lên đến 4.000 tỉ đồng, dư luận trong suốt hai tuần qua hầu như không chú ý gì nhiều đến tình tiết lừa đảo mà chỉ quan tâm đến việc Huyền Như lừa tiền của ai. Theo lập luận của các luật sư tại tòa, có những khoản tiền lớn Huyền Như lừa đảo của VietinBank, lấy tiền của VietinBank chứ không phải của các nạn nhân; đại diện nhiều doanh nghiệp bị lừa đảo cũng phát biểu trước tòa rằng họ gửi tiền vào cho VietinBank chứ họ không gửi tiền cho Huyền Như và VietinBank phải có trách nhiệm với những khoản tiền đã vào hệ thống của ngân hàng này.

Có lẽ sau vụ án hình sự này sẽ còn nhiều vụ kiện dân sự khác giữa các nạn nhân và VietinBank để giải quyết các đòi hỏi này. Có lẽ trước mắt phiên tòa này chỉ tập trung vào vấn đề hình sự, là sự lừa đảo của Huyền Như và các đồng phạm khác. Tuy nhiên, một chi tiết thiết nghĩ cũng đã rõ ràng: Huỳnh Thị Huyền Như có lừa đảo VietinBank, có lấy tiền của VietinBank bởi nếu không cô ta giả mạo chữ ký và con dấu của các doanh nghiệp bị hại làm gì, không lẽ dùng nó để lừa chính các doanh nghiệp đó?

Từ đó mới thấy nổi lên trách nhiệm của hai chủ thể quan trọng: bản thân VietinBank và Ngân hàng Nhà nước. Nếu VietinBank vẫn tiếp tục chối bỏ mọi chuyện thì chính VietinBank đang làm hại đến uy tín của mình. Dù muốn dù không, ngân hàng này phải thừa nhận quy trình kiểm soát nội bộ là có vấn đề vì nếu không tại sao hàng loạt cán bộ tín dụng của họ phải ra tòa. Nếu Ngân hàng Nhà nước không đưa ra tuyên bố chính thức về vấn đề này, hệ thống ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng vì sự lỏng lẻo của VietinBank không được chấn chỉnh, sự chối bỏ trách nhiệm của VietinBank không bị phê phán.

Hoàn toàn có thể hiểu được mong muốn của cơ quan quản lý tách bạch chuyện lừa đảo của Huyền Như và chuyện chấn chỉnh cách quản lý của hệ thống ngân hàng. Nhưng một khi không thể tách bạch như thế thì phải nhanh chóng điều chỉnh để kịp thời trấn an dư luận. Có thể việc buộc VietinBank chịu một phần trách nhiệm sẽ làm giảm nhẹ trách nhiệm của một số bị cáo khác nhưng nguyên tắc là phải vì niềm tin vào hệ thống ngân hàng.

Trong thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng, ban sẽ giao cho Ban Nội chính trung ương phối hợp với một số ban ngành trong Ngân hàng Nhà nước “tiến hành rà soát, nắm tình hình hoạt động tín dụng nhằm phòng ngừa và hạn chế phát sinh tiêu cực, tham nhũng tại một số ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần”. Vụ án Huyền Như đã làm bộc lộ ra nhiều lỗ hổng dễ dàng tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng và lừa đảo trong hoạt động tín dụng tại VietinBank nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung. Thừa nhận và bịt những lỗ hổng này còn quan trọng hơn bản thân phiên tòa, quan trọng hơn những khoản tiền đã mất vì có làm được điều đó mới mong ngăn chặn các vụ Huyền Như khác trong tương lai.


Xem thêm:
- Giấu đầu lòi đuôi
- Tuyên bố này là có thể hiểu được nhưng hơi vội vã
- Đừng nghĩ cứ gửi tiền vào ngân hàng thì sẽ không mất

Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

Ai lại nở mắng cái lỗ khu bao giờ

>> Thời điểm đưa TQ ra tòa 'đã chín muồi'
>> ‘Vụ làm lộ bí mật chắc chắn sẽ được làm triệt để'
>> Tố giác tướng Ngọ: chỉ mới mở cửa rào
>> Thể chế là gì?
>> Vụ án làm lộ bí mật nhà nước sẽ sớm được phá


Nô Bi Ta được thầy giáo trong một lần chấm bài kiểm tra cho 100 điểm, điểm cao nhất, điểm xuất sắc nhất, và cậu học trò đem đi khoe. Nhưng khổ nổi, bạn bè và người thân gia đình anh ta không ai tin, họ bàng quan và thờ ơ với thành tích đó, bởi vì trước đây Nô Bi Ta thường xuyên bị điểm 0 và nổi tiếng là một thằng bé hậu đậu, lười học, học rất kém. Nô Bi Ta cảm thấy mình bị tổn thương, thế là chú mèo máy Đô Rê Mon phải dùng đến "Rô-bốt truyền thông" để đòi lại công bằng cho Nô Bi Ta, và chiếc máy kỳ diệu kia đã tạo nên một "cơn chấn động thông tin" trong khắp cả nước về "hiện tượng Nô Bi Ta được 100 điểm", cậu học trò khờ khạo kia cảm thấy thật sung sướng ngất ngây khi được gia đình, bạn bè, công chúng ca ngợi chúc tụng lên tới tận trời xanh.

Ngược lại với Nô Bi Ta khờ khạo, người tử tù họ Dương không cần phải nhờ đến "Rô-bốt truyền thông", trong vai trò làm nhân chứng tại một phiên tòa và vài lời khai chậm rải nhỏ nhẹ cũng đủ cho giới truyền thông làm nên một "vụ nổ lớn", tin và không tin lại là câu chuyện khác.

Cần nhớ lại trước đây, sau vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn kinh hoàng kia, và tiếp tục các vụ "án oan" khác đang được báo chí mỗ xẻ làm rõ, thì có một "cụm từ" mà quan chức, truyền thông, dư luận hay nhắc đến nhiều nhắc trong nghiệp vụ điều tra. Đó chính là cụm từ "suy đoán vô tội", đó chính là một phương pháp khoa học trong tư pháp nhằm đảm bảo công bằng khách quan trong nghiệp vụ tố tụng công lý, nhằm giảm thiểu những yếu tố "sai lầm" khó có thể khắc phục được...

Lời khai của tử tù họ Dương kia cũng đã được "một bộ phận không nhỏ" đang định hướng "suy đoán vô tội" bằng những bài viết, bài báo trên các phương tiện truyền thông, đó là quyền của họ, nhưng tin hay không tin lại tùy thuộc vào riêng mỗi bạn đọc, riêng mỗi người xem. Điều cơ bản nhất của "suy đoán vô tội" hay "suy đoán có tội" đều dựa trên sự khách quan và những phương pháp khoa học, nói tầm bậy và thiên lệch thì sẽ chẳng ai thèm tin làm gì!

Trong thực tế, không cần cái "vụ nổ kinh hoàng" về truyền thông kia thì trong mỗi cần lao, cùng đinh họ cũng đã hiểu chuyện gì đã và đang xảy ra, nên tin và không tin điều gì. Từ cuộc sống va chạm đời thường, các mối quan hệ hữu quan xã hội bao lâu nay đã dạy cho họ biết đâu là sự thật, đâu là gian dối "nịnh thối".

Đánh rắm là một phản xạ tự nhiên của con người, người khôn chọn nơi vắng người mà xả, kẻ dại nào cố ý xả ở chổ đông người thường bị đám đông tảy chay, chê cười, cho là vô duyên, kém văn hóa... Nhưng thôi, người xưa thường vui tính, gặp những tình thế như vậy hay đùa nhau:

- "Khu mệt khu thở ai nở mắng khu"

Quay lại câu chuyện cụ thể này, "suy đoán vô tội" hay "suy đoán có tôi" thì thiên địa đã tỏ tường, còn cùng đinh và cần lao... thì cũng vậy. Hài kịch, bi kịch, chính kịch hay... hoang tưởng kịch thì cũng đã đủ thấm nhuần.

À, khu là cái lỗ đít...
Ai lại nở mắng cái lỗ đít bao giờ.

Bọn trẻ con bây giờ thích đọc Đô Rê Mon, hãy để bọn trẻ lớn lên với niềm tin ấy.

MP


Xem thêm:
- Còn nữa đó, đợi đi!
- Ai tiết lộ bí mật điều tra cho Nguyễn Như Phong?
- Vụ án lộ bí mật – nếu không tìm thấy bị can thì sao?